Giỏ hàng
GIẢI MÃ CHỮ “VIỆT” TRONG THANH KIẾM CỦA VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN

GIẢI MÃ CHỮ “VIỆT” TRONG THANH KIẾM CỦA VIỆT VƯƠNG CÂU TIỄN

Qua hàng nghìn năm lịch sử, hàng vạn biến cố trầm kha của đất trời, người Việt xưa và nay vẫn có chung một niềm tự hào, tự hào mình là người Việt, dân tộc Việt, nói tiếng Việt, là dòng dõi con Rồng cháu Tiên và coi “Việt” là một từ ngữ thiêng liêng gắn sau vào tâm khản. Dẫu vậy, ý nghĩa thực sự của từ “Việt” vẫn còn là một bức màn chứa nhiều bí ẩn mà không phải ai cũng hiểu thấu.

Phần lớn các nhà khoa học cho rằng phát âm của từ “Việt” (Yue, Yueh) hay 越 có thể có liên quan đến chữ 鉞 - chữ 鉞 có nghĩa là cái rìu lớn, vừa là một công cụ lao động phổ biến mà vừa có thể trở thành một thứ binh khí. Việc mục đích sử dụng công cụ chuyển từ phục vụ sản xuất sang chiến tranh là hình ảnh phản chiếu việc con người từ việc sống theo quy mô nhỏ lẻ chuyển dần sang quy mô lớn hình thành nên các bộ tộc và vương quốc được cai trị bởi tộc trưởng hay vua – những người đứng đầu và sử dụng vũ lực để thống nhất các bộ tộc nhỏ thành bộ tộc lớn và phát triển dần trở thành một vương quốc. Chính vì vậy mà chiếc rìu thường được coi là biểu tượng của hoàng gia hoặc quyền lực hoàng đế cổ xưa.

Quan điểm này của các nhà khoa học có tính thuyết phục nhờ các phát hiện khảo cổ được tìm thấy tại vùng Hàng Châu, có rất nhiều bằng chứng chứng minh rằng rìu là một phát minh của vùng đất phía Nam trong khu vực sinh sống của người Bách Việt, và việc người ta gọi một dân tộc dựa vào một sản phẩm nổi trội của dân tộc đó không phải là chuyện lạ. Bản thân từ “china” mà người phương Tây dùng để gọi Trung Quốc cũng bắt nguồn từ gốm sứ - mặt hàng nổi tiếng của họ trong thời kỳ con đường tơ lụa.

Tuy vậy, quan điểm này tuy phổ biến nhưng quá sơ sài trong nghiên cứu và chứa đựng rất nhiều điểm không hợp lý rõ ràng, chữ 鉞là một chữ Hán và rõ ràng nó hình thành sau thị tộc Bách Việt, tức là tương tự như trường hợp người phương Tây gọi người Trung Quốc là “china”, từ “china” có nghĩa là “gốm sứ” ám chỉ người Trung Quốc khi trong ngôn ngữ người phương Tây chưa có từ nào để gọi người Trung Quốc và chữ 鉞 cũng có nghĩa là “cái rìu” ám chỉ người Việt khi trong ngôn ngữ người Trung Quốc chưa có từ nào để gọi người Việt. Đây là trường hợp thường xảy ra, khi giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc khác nhau, có ngôn ngữ khác nhau đến từ những vùng đất khác nhau. Tức là, ý nghĩa của từ “Việt” chắc chắn không phải là “cái rìu”.

Nhà kí tự học Richard Sears, đã bỏ ra 27 năm để nghiên cứu cổ ngữ có trước chữ Hán. Ông sưu tầm tỉ mỉ từng chữ và sở hữu một kho tài liệu rất lớn và đồ sộ. Theo đó, chữ “Việt” mà Richard Sears ghi nhận được là một kí tự khác hoàn toàn với chữ “Việt” mà người Trung Quốc ngày nay thường dùng để ám chỉ người Việt Nam (越 được ghép lại từ chữ “tẩu” (走) tức là chạy và chữ “qua” (戊) tức là chiến tranh, ám chỉ những người vì chiến tranh mà di dân xuống phía nam, trường hợp này tương tự việc gọi người Việt là “cái rìu”, không phải ý nghĩa thực sự của từ “Việt”)

Kí tự cổ này, không thể giải nghĩa theo lối chiết tự từ chữ Hán thông thường, nói một cách rõ ràng, thì kí tự cổ này không hề là chữ Hán và gần gũi với chữ Hán. Vậy chữ “Việt” này Richard Sears đã sưu tầm từ đâu

Năm 1965 tại tỉnh Hồ Bắc 湖 北, vùng Kinh Châu (Giang Lăng) ở Vọng Sơn, từ một lăng miếu thuộc triều đại nhà Sở người ta khai quật được một thanh bảo kiếm cổ xưa, thứ sau này được coi là một trong 10 quốc bảo của Trung Quốc, đó là thanh bảo kiếm của vua Việt Vương Câu Tiễn (9 quốc bảo còn lại là chén Tứ Dương Phương Tôn, bức tranh Thanh Minh Thượng Hà Đồ, Đại Ngọc Sơn, chuông Tăng Hầu Ất, tượng Mã Đạp Phi Yến, Tương Kim Thú Thủ Mã Não Bôi, chiếc áo Kim Lũ Ngọc Y, Lưu Kim Vũ Mã Hàm Bôi Văn Ngân Hồ và Thương Chu Thái Dương Thần Điểu Kim Sức)

Đây là một bảo kiếm qúi hiếm tự cổ chí kim, chứa đựng rất nhiều bí ẩn, không chỉ sở hữu những kí tự cổ, có giá trị lịch sử mà bản thân nó cũng làm thay đổi cái nhìn của các nhà khoa học về kĩ năng luyện kim của người Bách Việt xưa. Với sự tiến bộ trong công nghệ hiện đại ngày nay, người ta vẫn chưa tìm ra được phương pháp đúc kiếm có độ bền cao hơn thanh bảo kiểm bị chôn vùi dưới đất hơn 2 nghìn năm mà không bị oxi hóa, không hề có dấu hiệu rỉ sét này. Thậm chí thanh bảo kiếm vẫn giữ nguyên được hoa văn tinh xảo lấp lánh hào quang, có thể rạch xuyên đứt tổng cộng 16 lớp giấy, sợi tóc bị gió thổi mắc lại lưỡi kiếm vẫn đứt làm đôi, sắc tương đương dao lam hiện đạ

Trên kiếm có khắc 8 chữ cổ được người Trung Quốc giải nghĩa là: “越 王 鸠 浅 自 乍 用 剑” – tạm dịch là “Việt Vương Câu Tiễn Tự Tác Dụng Kiếm” tức thanh bảo kiếm này là của Việt Vương Câu Tiễn tự chế tác cho bản thân mình dùng

Kí tự “Việt” trong thanh bảo kiếm này có nhiều điểm rất trung khớp với chữ “Việt” mà Richard Sears sưu tầm, có thể khẳng định hai kí tự này là một.

Cần biết rằng, nước Việt của Việt Vương Câu Tiễn (từ năm 496 tới 465 TCN) là một phần của thị tộc Bách Việt, gồm Câu Ngô (句吳), Ư Việt (於越), Dương Việt (揚越), Mân Việt (閩越), Nam Việt (南越), Đông Việt (東越), Sơn Việt (山越), Âu Việt (甌越, hay còn gọi là Tây Âu - 西甌) và Lạc Việt (雒越, chính là Việt Nam ngày nay). Chính vì vậy mà họ sử dụng ngôn ngữ và chữ viết khác người Trung Quốc và cực kỳ gần gũi với người Việt Nam chúng ta ngày nay.

Để hiểu được chữ “Việt” này thực sự có ý nghĩa là gì, ta cần chiết tự nó theo một cách nguyên bản nhất.

Chữ “Việt” này được cấu thành từ ba kí tự (1), (2) và (3), trong đó rất dễ dàng để thấy rằng kí tự (1) có ý nghĩa là mặt trời – một biểu tượng rất quen thuộc trong các văn hóa cổ đại vốn dựa vào nông nghiệp.

Ký tự thứ (2) đối chiếu giáp cốt văn thì có thể khẳng định nó có ý nghĩa là rồng – một sinh vật huyền thoại rất phổ biến trong văn hóa Á Đông

Kí tự (3) cuối cùng phức tạp hơn, đối chiếu với các biểu tượng ở trống đồng và kí tự “người chim” ta có thể thấy rất nhiều nét tương đồng, kí tự này có liên quan tới hình tượng chim lạc của người Lạc Việt.

Vậy “mặt trời”, “rồng”, và “người chim” có nghĩa là gì? Nếu đối chiếu theo truyền thuyết Âu Cơ và Lạc Long Quân mà ngàn đời nay chúng ta vẫn lưu truyền và họa tiết trên các mẫu trống đồng thì có thể hiểu rất rõ rằng chữ “Việt” này ám chỉ những người con của rồng và tiên (là các người chim) sống bên dưới mặt trời (hình ảnh mặt trời luôn nằm ở giữa trống đồng)

Như vậy có thể khẳng định, ý nghĩa của chữ “Việt” là “con rồng cháu tiên”, một ý nghĩa rất gần gũi và thiêng liêng chứa đựng đậm đặc tính nguyên bản của cái hồn Việt bất diệt và trường tồn.