Giỏ hàng
HÀ ĐỒ VÀ LẠC THƯ, NGỌN NGUỒN THUẬT PHONG THỦY CỦA NGƯỜI VIỆT CỔ

HÀ ĐỒ VÀ LẠC THƯ, NGỌN NGUỒN THUẬT PHONG THỦY CỦA NGƯỜI VIỆT CỔ

Hà Đồ và Lạc Thư là hai đồ hình huyền bí, là ngọn nguồn thuật phong thủy của người Việt Cổ, thoạt đầu mới quan sát thì cảm thấy rất khó hiểu, nhưng nghiên cứu kĩ thì nó lại là một kỳ quan thực sự, chứa đựng rất nhiều ý niệm và kiến thức đồ sộ bao hàm toàn bộ vũ trụ bao lao, tức là gồm cả toán học, thiên văn, tín ngưỡng, tư tưởng, triết lý...

Hà Đồ và Lạc Thư được lưu truyền từ thời Cổ Đại, xưa đến nỗi không một tài liệu nào khẳng định rõ tác giả, điều này cùng sự kì vĩ của nó dễ dẫn tới những quan điểm cho rằng nó xuất phát từ thần linh chứ con người không đủ tầm sáng tạo.

Tuy vậy, về mặt toán học thì không cần đến thần linh mà con người hoàn toàn có thể tạo ra Hà Đồ và Lạc Thư. Đồ hình Lạc Thư thật ra là một magic matrix vuông 3×3. Đồ hình này khá đơn giản, mọi dân tộc trên thế giới này đều có thể lập nên ma phương này.

Đồ hình Hà Đồ gồm bốn bộ số 1-6, 2-7, 3-8, 4-9. Bốn bộ số của Hà đồ đều có một số chẵn và một số lẻ, hiệu của hai số luôn bằng 5. Tuy nhiên có hai bộ bắt đầu từ con số lẻ 1-6, 3-8 và hai bộ số từ số chẵn: 2-7, 4-9. Sư cân bằng chẳn lẻ khá chuẩn: 2+4+6+8=20 và 1+3+7+9=20. Mặc dù, so với Toán học ngày nay đây chỉ là một trò chơi nhỏ, nhưng ở thời cổ đại thì người xưa khi nghĩ ra bốn bộ số này từ 10 chữ số đầu tiên đã lồng vào đó những tư tưởng triết học vĩ đại.

Hai đồ hình này chính là nguồn gốc của thuật số Âm Dương Ngũ Hành và Bát Quái. Bát Quái, Ngũ hành, Can Chi về sau này đều được nảy sinh từ đó và đều phối hợp với hai đồ hình này mà diễn giải.

Nguồn gốc của Hà Đồ và Lạc Thư được người Trung Quốc lưu truyền với một truyền thuyết cổ rất mơ hồ. Kể rằng có một con Long Mã xuất hiện trên sông Hoàng Hà trên mình có vẽ Hà Đồ. Còn trên sông Lạc Thủy xuất hiện một Thần Quy trên lưng có vẽ Lạc Thư.

Kỳ thực đây chỉ là một truyền thuyết rất mơ hồ và góp phần làm "huyền bí hóa" hai kỳ quan vốn chỉ đơn giản là những thành tựu học thuật của con người. Việc tách riêng lẻ hai đồ hình này, một xuất hiện ở Hoàng Hà và một xuất hiện ở Lạc Thủy khiến chúng bị xa rời nhau, nhưng thực tế hai đồ hình này là một thể. Nói một cách khác thì truyền thuyết này thậm chí không hiểu bản chất của Hà Đồ và Lạc Thư.

Trên thực tế, Hà Đồ và Lạc Thư không phải là hai đồ hình độc lập, khác nhau mà chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nếu ta xoay ngược Hà Đồ thì sẽ trở thành Lạc Thư.

Tuy vậy, đã là truyền thuyết thì sẽ luôn có một phần thực, một phần ảo - và cái phần thực có lẽ là nằm ở đây:

“Vào thời vua Nghiêu (năm 2357 trước CN) có sứ giả Việt Thường đến kinh đô tại Bình Dương (phía bắc con sông Hoàng Hà - tỉnh Sơn Tây ngày nay) để dâng một con Thần Quy, vuông hơn ba thước, trên lưng có khắc chữ khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau. Vua Nghiêu sai người chép lại gọi là “lịch rùa”.

(Lê Chí Thiệp: Kinh dịch Nguyên thuỷ - Nhà Xuất Bản Văn học 1998, tr.34)

Sách “Thông Chí” của Trịnh Tiều xưa cũng đã ghi rõ việc thị tộc Việt Thường tặng lịch Rùa cho vua Nghiêu. Như vậy là “lịch rùa” của dân tộc Việt Thường đã xuất hiện cách đây hơn 4000 năm. Phải chăng lịch ghi trên mai rùa đem tặng vua Nghiêu xưa chính là Hà Đồ, Lạc Thư cùng Tiên thiên, Hậu thiên bát quái ghi bằng các chấm đen, chấm trắng (chữ Khoa Đẩu) cùng hệ thống chữ số nhị phân ghi bằng cách vạch liền và vạch đứt? Nếu không thì sao sử cổ Trung Quốc có thể ghi “Lịch rùa ghi từ thời vũ trụ mới hình thành cho đến sau này”.

Điều đó chỉ chứng minh một điều rõ ràng là dân tộc Việt Thường đã biết làm lịch và có chữ khoa đẩu rất sớm để phục vụ nền văn minh lúa nước đã tồn tại trước đó hàng ngàn năm. Chữ Khoa Đẩu mà người Trung Quốc gọi là hình con nòng nọc, tức gồm những chấm đen hay trắng nối với những vạch và cả những chữ viết ngoằn ngoèo trông giống như những con nòng nọc chính là những biểu tượng âm dương có trên Hà Đồ và Lạc Thư.

Có một nguồn gốc tuy sơ sài nhưng cũng đồng thời được người Trung Quốc công nhận là Hà Đồ và Lạc Thư đều có nguồn gốc từ những người phía nam sông Dương Tử. Thực tế, lịch sử và các khảo cổ học đã ghi nhận rõ ràng rằng vào thời đại mà Hà Đồ và Lạc Thư ra đời (khoảng trước 2000 TCN) thì người Hoa Hạ sống ở phía bắc sông Dương Tử và phía nam sông Dương Tử là lãnh thổ phát tích của người Bách Việt. Ngay kể cả họa tiết trên trống đồng Ngọc Lũ - bảo vật quốc gia Việt Nam cũng là bằng chứng thép khẳng định sự liên quan sâu sắc tới Hà Đồ.

Người Trung Quốc vốn ưa thích những thứ huyền bí và họ có thói quen "huyến bí hóa" mọi thực thể. Với người Việt Cổ, Hà Đồ và Lạc Thư rất có thể chỉ giản đơn là cơ sở toán học của lý thuyết Âm Dương – Ngũ hành mà những người ưa thích huyền bí cho là “mê tín” và ám thị rằng chỉ có thần linh mới sáng tạo được.

Hà Đồ và Lạc Thư là ngọn nguồn của thuật phong thủy

Hà Đồ và Lạc Thư mang tính chất một “Hệ tiên đề” vừa có nội dung toán học vừa có nội dung triết học chặt chẽ của người xưa.

Thực ra, Hà Đồ và Lạc Thư chỉ là một thành quả của những học thuyết cổ xuất phát từ việc tính toán thời gian và xây dựng một hệ toạ độ không gian. Năm điểm đại diện cho năm hướng của không gian, mang tính số học và triết học rất cô đọng nhưng đồng thời thâm túy - đó chính là cách mô tả mang tính tổng quát vạn vật diễn ra trong không gian mà con người quan sát được. Không gian đó chỉ có bốn phương chính và một phương gốc là Trung tâm (cộng tất cả là 5 phương).

Năm hướng chính đó ứng với 5 số đếm đầu tiên, cũng tương ứng với 5 ngũ hành Nước, Lửa, Đất, Kim loại và thế giới sinh vật (tượng trưng là Mộc). Ngũ hành không chỉ tượng trung cho 5 hành tinh vận động trên bầu trời (sao Thủy, sao Kim, sao Mộc, sao Hỏa) mà còn tượng trưng cho 5 lực lượng lớn tồn tại trên mặt đất, 5 loại “Thiên Khí” của vũ trụ luôn vận động, chuyển hoá lẫn nhau, tạo nên mọi sự biến hoá của khí hậu và mọi thịnh suy của thời vận. Từ đây mà cơ sở về thuật phong thủy cũng ra đời, hay nói một cách khác, Hạ Đồ và Lạc Thư là nguồn gốc của Thuật Phong Thủy

Hà Đồ và Lạc Thư là cơ sở đầu tiên của nhân loại về hệ nhị phân

Mãi đến gần đây, Chủ nghĩa cấu trúc (structuralism) của văn minh phương Tây mới chỉ ra rõ ràng rằng nhị nguyên đối lập (binary opposition) là thuộc tính hằng hữu của mọi tồn tại. Về cơ bản, chúng thường thống nhất và bổ xung hàm ý cho nhau. Tuy nhiên, văn hóa Trung Hoa đã nêu ra phạm trù này từ lâu dưới tên gọi Âm – Dương muộn nhất là từ thời Chu cách đây hơn 3000 năm. Trong rất nhiều nghĩa của hai đơn tự Âm 陰 và Dương陽 , hầu hết chúng tạo thành các cặp nhị nguyên đối lập như Mặt Trăng – Mặt Trời, Nam – Nữ, Tăm Tối – Tươi Sáng…

Cơ sở Âm - Dương của người Trung Hoa đó, như đã nói, xuất phát điểm không đâu khác ngoài Kinh Dịch mà Kinh Dịch lại là một diễn giải lớn của Hà Đồ và Lạc Thư.

Ký hiệu Dương – một gạch ngang liền lạc tượng trưng cho mặt trời. Ký hiệu Âm – một gạch ngang khuyết ở giữa tượng trưng cho mặt trăng. Hai gạch dưới tên gọi Dương và Âm đó là phù hiệu của Lưỡng Nghi.

Khi chồng hai phù hiệu của Lưỡng Nghi lên nhau theo mọi trật tự trên – dưới có thể có, người ta hình thành được Tứ Tượng: [Âm – Dương] gọi là Thiếu Dương, dương khí khởi sinh, tương ứng với mùa xuân. [Dương – Dương] gọi là Thái Dương, cực điểm nóng nực, tương ứng với mùa hạ. [Dương – Âm] gọi là Thiếu Âm, âm khí khởi sinh, mùa thu . [Âm – Âm] gọi là Thái Âm, cực điểm lạnh lẽo, mùa đông. Tứ tượng bốn mùa này, ở góc độ nào đó là ánh xạ của khái niệm tứ tượng trong thiên văn là Nhật-Nguyệt-Tinh-Thần.

Tiếp tục chia bốn mùa thành các giá trị nhỏ hơn, người ta lần lượt ghép vào Tứ Tượng hai vạch Âm và Dương phía dưới, tạo thành Bát Quái (đơn quái): Càn (trời), Khảm (nước), Cấn (núi), Chấn (sấm), Tốn (gió), Ly (lửa), Khôn (đất), Đoài (đầm).

Từ tám Đơn Quái, nếu tiếp tục chồng chúng lên nhau sẽ cho ra 64 Trùng Quái hay còn gọi là quẻ Chu Dịch. Mỗi quẻ có 6 gạch Âm và Dương, 64 quẻ tạo bởi 384 gạch. Những gạch này gọi là Hào. Căn cứ trên hình thế của 64 quẻ và vị trí của 384 hào, người ta tạm đủ yếu tố để giải thích cũng như suy diễn mọi thứ ở đời, trên thiên văn, dưới địa lý, từ hiện tại đến tương lai, thậm chí quay ngược trở về quá khứ…

Chúng ta đều biết bản chất nhị phân Âm – Dương của Chu Dịch hoàn toàn tương đồng với nhị phân 0-1 trong toán học phương Tây và nền tảng kỹ thuật số của nhân loại ngày nay. Xem Âm = 0 và Dương = 1, Lưỡng Nghi ( 1 bit), Tứ Tượng (hai bit) và Bát Quái (ba bít) thể hiện các con số từ 0 đến 7 (màu đỏ) như ảnh trên.

Hà Đồ và Lạc Thư tạo ảnh hưởng tới cả Phật Giáo và Đạo Giáo

Nếu chúng ta biểu thị Lạc Thư bằng một ma trận 3×3 bằng cách thay thế các biểu tượng khoa đẩu (các dấu chấm) bằng các chữ số.

Sẽ được một ma trận 3x3

Ta thấy rằng Lạc Thư này rất minh hiển và cân đối, bất luận là hàng ngang, dọc, hay đường chéo đều có tổng các số là 15, người xưa từ Lạc Thư mà triển khai thành bát quái.

Bên trong Hà Đồ bằng cách nối liền các chấm đen và nối liền các chấm trắng ở ngoài ta có được Thái Cực, một biểu tượng thể hiện sự cân bằng tuyệt đối của Âm - Dương, đây là sơ khai của Thái Cực sau này được Đạo Giáo giản lược.

Tiếp tục, Từ ma trận 3x3 của Lạc Thư, lấy 5 làm trung tâm rồi nối các cặp số mà Hà Đồ chỉ ra (1-6), (2-7), (3-8), (4-9), sau đó nối với trung tâm ở giữa. Đến đây hẳn ai cũng đã thấy xuất hiện phù hiệu chữ Vạn (卍).

Có thể thấy hai tín ngưỡng lớn tại Á Đông là Phật Giáo và Đạo Giáo cũng chịu ảnh hưởng bởi Hà Đồ và Lạc Thư, đúng là một đồ hình vô cùng đặc biệt. Có thể có người cho rằng Hà Đồ, Lạc Thư hay Kinh Dịch vốn là của Đạo gia nên dĩ nhiên là có Thái Cực. Nhưng vì sao chúng còn ẩn chứa phù hiệu chữ Vạn (卍) của Phật gia?

Thật sự, với vai trò là một "hệ tiên đề" mô phỏng lại vũ trụ thì cũng rất logic nếu Hà Đồ và Lạc Thư có những điểm tương đồng với triết lý nhà Phật.

Ngay kể cả cấu trúc con người cũng là nằm trong vũ trụ, thuận theo tự nhiên và cũng không ở ngoài phạm vi mô phỏng lại của Hà Đồ và Lạc Thư.

Hà Đồ và Lạc Thư bao hàm ý niệm của thuyết big bang

Hà Đồ và Lạc Thư đều triển khai từ Âm và Dương hay ngọn nguồn hơn là Chẵn và Lẻ, cho dù ta triển khai từ thấp đến cao (từ 1 -> 3 -> 5 -> 7 và 2-> 4 -> 6 ->8 hay ngược lại) thì quỹ đạo triển khai ở cả Hà Đồ và Lạc Thư đều có một điểm chung là đều phải chuyển động về tâm rồi mới có thể đi tiếp.

Như vậy, ngay trong Hà Đồ và Lạc Thư đã nêu rõ ý niệm Vạn vật phát xuất từ một Tâm Điểm, phóng phát ra ngoài, rồi cuối cùng lại qui hướng về Tâm Điểm ấy, và nó có tính tuần hoàn - đây chính là ý tưởng vô cùng tương đồng với thuyết Big Bang nổi tiếng và cả thuyết Big Crunch mà các nhà khoa học đề ra để giải thích sự khởi nguồn và kết thúc của vũ trụ

Thuyết Big Bang cho rằng vũ trụ của chúng ta bắt đầu từ một điểm kỳ dị, sau đó là thời kỳ lạm phát và giãn nở hơn 13.8 tỷ năm cho đến vũ trụ mà chúng ta biết ngày nay.

Thuyết Big Crunch là một giả thuyết về sự quy tụ của vũ trụ trở lại một điểm sau khi nó ngừng nở ra sau Big Bang. Nếu lực hấp dẫn của tất cả vật chất trong vòng vũ trụ đủ lớn, nó có thể làm chậm dần quá trình nở ra của vũ trụ, đến mức ngừng hẳn rồi sau đó bắt đầu co trở lại. Sau khoảng thời gian gần bằng thời gian giãn nở, vũ trụ co trở về một điểm kỳ dị.

Có thể thấy rõ Hà Đồ và Lạc Thư như những "chén thánh" không chỉ bao hàm nguồn gốc tôn gáo, tính ngưỡng và còn chưa đựng cả sự uyên thâm và tầm hiểu biết kì vĩ của những người Việt Cổ.